Phương pháp mổ rò hậu môn bằng nội soi đường rò (VAAFT – Video Assisted Anal Fistula Treatment) chỉ định cho những bệnh nhân rò lỗ đít phức tạp. Đặc điểm của phương pháp này là xác định xác thực được lỗ trong nhờ quan sát trực tiếp từ phía trong bằng camera nội soi đường rò, và đóng kín lỗ trong. Kỹ thuật gồm 2 thìa là thì chẩn đoán và thì giải phẫu. Với giải phẫu VAAFT thì không cần phải phân loại đường rò trước mổ do đó có thể giảm tổn phí chẩn đoán bệnh. phẫu thuật ít lấn chiếm, không để lại những vết mổ ở tầng sinh môn, và không làm thương tổn cơ thắt do đó không ảnh hưởng đến khả năng tự chủ lỗ đít.

Rò lỗ đít là một trong số những bệnh thường gặp ở vùng lỗ đít. Nguyên tắc điều trị là xác định được lỗ trong Nút gắn hậu môn , tìm ra những ổ áp xe cũng như các đường rò thứ phát, và bảo tàng cơ thắt lỗ đít tối đa. giải phẫu thường dùng như mở ngỏ đường rò cho tỷ lệ tái phát từ 0%-18%, căn nguyên chính là do không xác định được lỗ trong và không phát hiện được những đường rò thứ phát. Tỷ lệ mất tự chủ lỗ đít (độ nhẹ) sau mổ của phương pháp này là 18% – 52%. Phương pháp đặt chỉ chờ cho những đường rò phức tạp, đường rò xuyên cơ thắt cao cũng cho tỷ lệ tái phát và mất tự chủ tuần tự là 0-29% và 0-64%. Phương pháp sử dụng keo và nút bịt sinh học là phương pháp đơn giản, không làm tổn thương cơ thắt nhưng lại cho tỷ lệ thành công thấp 16% và 29%-87% và giá thành quá đắt. Những năm gần đây đã có nhiều phương pháp ít lấn chiếm mới được sử dụng để điều trị rò lỗ đít phức tạp như phương pháp thắt đường rò ở rãnh gian cơ thắt (LIFT – Ligation of the Intersphincteric Fistula Tract) cho tỷ lệ khỏi giao động từ 57% đến 94,4%, nhược điểm của phương pháp Đuôi cắm hậu môn là phải phẫu tích rộng vào mặt phẳng gian cơ thắt mà có thể làm tổn thương mạch nuôi của niêm mạc ống lỗ đít cũng như làm thủng niêm mạc dẫn đến thất bại. Năm 2006 giáo sư người Ý Piercarlo Meinero là người trước nhất sử dụng phương pháp nội soi đường rò – VAAFT trong điều trị bệnh nhân rò lỗ đít phức tạp. Đặc điểm của phương pháp là khả năng quan sát đường rò từ phía trong dưới sự tương trợ của camera nội soi đường rò đặc biệt, qua đó có thể xác định xác thực lỗ trong và các đường rò thứ phát khác, và hoàn toàn không làm thương tổn cơ thắt lỗ đít. Tại bệnh viện Việt Đức đã bắt đầu dùng phương pháp VAAFT bước đầu mang lại kết quả tốt và bệnh nhân ưng ý cao.

dùng giàn máy nội soi của Karl Storz. Bộ dụng cụ nội soi đường rò bao gồm ống nội soi đường rò MEINERO, que đốt điện đa cực, bàn chải đường rò, và một forceps nội soi, máy cắt nối thẳng/cong và 0,5 ml cyanoacrylate.

Bệnh nhân được đặt nằm tư thế sản khoa (lithotomic position – nằm ngửa 2 chân rang rộng) và được gây tê tuỷ sống. Ống nội soi đường rò được kết nối với giàn nội soi của Karl Storze, và kênh rửa được nối với túi chứa dung dịch rửa (5000cc glycine vs manitomanitol 1%)

Đường rò được làm sạch bằng Que kích thích hậu môn bàn chải
Phương pháp nội soi đường rò (VAAFT) trong điều trị rò hậu môn phức tạp ít xâm lấn bước đầu mang đến kết quả khả quan (tỷ lệ khỏi 70-85%), là phương pháp đơn giản, an toàn. Bệnh nhân sau mổ có thể trở lại sinh hoạt làm việc sớm (2-3 ngày). Không có vết mổ tầng sinh môn nên không đòi hỏi việc chăm chút vết mổ phức tạp. Không làm thương tổn cơ thắt lỗ đít do đó không ảnh hưởng đến chức năng tự chủ của hậu môn. Ngoài việc sử dụng trong điều trị rò hậu môn, phương pháp này còn được dùng cho các bệnh viêm rò vùng hậu môn khác như viêm rò nang lông vùng cùng cụt, bệnh viêm rò tuyến bã vùng mông …